Đề thi Đánh giá năng lực ĐHQG Hồ Chí Minh năm 2025 có đáp án (Đề 7)
336 người thi tuần này 4.6 336 lượt thi 120 câu hỏi 120 phút
🔥 Đề thi HOT:
(2025) Đề thi thử Đánh giá năng lực ĐHQG Hồ Chí Minh năm 2025 có đáp án (Đề 1)
Đề thi Đánh giá năng lực ĐHQG Hồ Chí Minh năm 2025 có đáp án (Đề 1)
ĐGNL ĐHQG TP.HCM - Sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt - Chính tả
(2025) Đề thi thử Đánh giá năng lực ĐHQG Hồ Chí Minh năm 2025 có đáp án (Đề 2)
Đề thi Đánh giá năng lực ĐHQG Hồ Chí Minh năm 2025 có đáp án (Đề 2)
ĐGNL ĐHQG TP.HCM - Sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt - Tìm và phát hiện lỗi sai
(2025) Đề thi thử Đánh giá năng lực ĐHQG Hồ Chí Minh năm 2025 có đáp án (Đề 5)
(2025) Đề thi thử Đánh giá năng lực ĐHQG Hồ Chí Minh năm 2025 có đáp án (Đề 4)
Nội dung liên quan:
Danh sách câu hỏi:
Câu 30:
The place we liked the most was Santa Teresa Beach, which nature is still pretty much untouched.
Câu 45:
Cho hàm số
, với
là tham số thực.
Đồ thị hàm số
cắt trục hoành tại đúng một điểm khi và chỉ khi
Cho hàm số , với
là tham số thực.

Đoạn văn 1
XUÂN KHÔNG MÙA
(Xuân Diệu)
Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.
Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng.
Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
Xuân là lúc gió về không định trước.
Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược,
Mây bay đi để hở một khung trời
Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi,
Như được nắm một bàn tay son trẻ...
Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé;
Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa;
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa
Lùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng.
Nếu lá úa trên cành bàng không rụng,
Mà hoa thưa ửng máu quá ngày thường;
Nếu vườn nào cây nhãn bỗng ra hương,
Là xuân đó. Tôi đợi chờ chi nữa?
*
Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa,
Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta
Khi những em gặp gỡ giữa đường qua
Ngừng mắt lại, để trao cười, bỡ ngỡ.
Ấy là máu báo tin lòng sắp nở
Thêm một phen, tuy đã mấy lần tàn.
Ấy là hồn giăng rộng khắp không gian
Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ?
Ấy những cánh chuyển trong lòng nhẹ nhẹ
Nghe xôn xao rờn rợn đến hay hay...
Ấy là thư hồi hộp đón trong tay;
Ấy dư âm giọng nói đã lâu ngày
Một sớm tim bỗng dịu dàng đồng vọng...
Miễn trời sáng, mà lòng ta dợn sóng,
Thế là xuân. Hà tất đủ chim, hoa?
Kể chi mùa, thời tiết, với niên hoa,
Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng.
(Nguồn Thơ Xuân Diệu, NXB Văn học, 2019)
Đoạn văn 2
(1) Một lần tình cờ tôi đọc được bài viết “Hạnh phúc là gì?” trên blog của một người bạn. (2) Bạn ấy viết rằng: “Hạnh phúc là được nằm trong chăn ấm xem ti vi cùng với gia đình. (3) Hạnh phúc là được trùm chăn kín và được mẹ pha cho cốc sữa nóng. (4) Hạnh phúc là được cùng đứa bạn thân nhong nhong trên khắp phố. (5) Hạnh phúc là ngồi co ro hàng giờ trong quán cà phê, nhấm nháp li ca-cao nóng và bàn chuyện chiến sự... thế giới cùng anh em chiến hữu...”.
(6) Bất chợt giật mình, hạnh phúc đơn giản vậy sao? (7) Ừ nhỉ! (8) Dường như lâu nay chúng ta chỉ quen với việc than phiền mình bất hạnh chứ ít khi biết được rằng mình đang hạnh phúc. (9) Hãy một lần thử nghĩ xem: Khi chúng ta than phiền vì bố mẹ quá quan tâm đến chuyện của mình thì ngoài kia biết bao nhiêu người thèm hơi ấm của mẹ, thèm tiếng cười của bố, thèm được về nhà để được mắng; khi chúng ta cảm thấy thiệt thòi khi không được ngồi xe hơi chỉ vì phải chạy xe máy giữa trời nắng thì ngoài kia biết bao nhiêu bạn của chúng ta mồ hôi nhễ nhại, gò mình đạp xe lên những con dốc vắng; khi chúng ta bất mãn với chuyện học hành quá căng thẳng thì ngoài kia biết bao người đang khao khát một lần được đến trường, một lần được cầm cây bút để viết lên những ước mơ; khi chúng ta...
(Dẫn theo Bài tập Ngữ văn 11, tập 2, NXB Giáo dục 2007)
Đoạn văn 3
Though overwhelmed by the news of the novel coronavirus outbreak, MunyaradziGurure, the 21-year-old student at Guangxi University of Finance and Economics from South Africa, has still stepped out to serve as a volunteer in the train station to help battle the epidemic.
“I’m well aware the situation of epidemic prevention and control is very severe,” he said. “Seeing that many people actively joined in the fight, I also wanted to do my part and volunteer at the station.” With the number of novel coronavirus cases continuing to rise both in and outside of China, Gurure’s family back in South Africa was very worried about his health, and hoped he would quit the volunteer job. “I told my parents China has taken a lot of strong quarantine measures and is actually safe,” he said. “I want to do whatever I can to prevent the spread of the infection. The country took really good care of me during the last three years.”
Working about four hours a day, Gurure either carries an 8-kilogram electric sprayer to disinfect the waiting room or checks passengers’ temperature as soon as they walk into the station. He also makes sure people are in good health and wearing masks at all times. Though it’s not easy work, Gurure came across many Chinese who are very surprised to see a foreign face, but then give a thumbs up and say “very good” to him in Chinese. Gurure’s foreign classmates found out about his volunteer job and sent messages saying “good job”, some showing interest in joining him to help curb the spread of the virus.
(Source: https://news.am/eng/news)
Câu 72:
Why does the author mention other people’s reaction to Gurure’s volunteering in the last passage?
Đoạn văn 4
1. The movement of people towards cities has accelerated in the past 40 years, particularly in the less developed regions, and the share of the global population living in urban areas has increased from one third in 1960 to 47% (2.8 billion people) in 1999. The world’s urban population is now growing by 60 million persons per year, about three times the increase in the rural population.
2. Increasing urbanisation results about equally from births in urban areas and from the continued movement of people from the rural surround. These forces are also feeding the sprawl of urban areas as formerly rural peri-urban settlements become incorporated into nearby cities and as secondary cities, linked by commerce to larger urban centres, grow larger.
3. The proportion of people in developing countries who live in cities has almost doubled since 1960 (from less than 22% to more than 40%), while in more developed regions the urban share has grown from 61% to 76%. There is a significant association between this population movement from rural to urban areas and declines in average family size.
4. Asia and Africa remain the least urbanised of the developing regions (less than 38% each). Latin America and the Caribbean is more than 75% urban, a level almost equal to those in Europe, Northern America and Japan (all are between 75 and 79%).
5. Urbanisation is projected to continue well into the next century. By 2030, it is expected that nearly 5 billion (61%) of the world’s 8.1 billion people will live in cities. The less-developed regions will be more than 57% urban. Latin America and the Caribbean will actually have a greater percentage of inhabitants living in cities than Europe will.
6. Globally, the number of cities with 10 million or more inhabitants is increasing rapidly, and most of these new ‘megacities’ are in the less developed regions. In 1960, only New York and Tokyo had more than 10 million people. By 1999, there were 17 cities of more than 10 million people around the world, 13 of these were in less-developed regions. It is projected that there will be 26 megacities by 2015, 22 in less-developed regions (18 will be in Asia); more than 10% of the world’s population will live in these cities, up from just 1.7% in megacities in 1950.
(Adapted from: http://www.unesco.org/education/tlsfl/mods/theme_popups/mod/3101s009.html)
Đoạn văn 5
Một phân xưởng có hai máy chuyên dụng và
để sản xuất hai loại sản phẩm
và
theo đơn đặt hàng. Nếu sản xuất được một tấn sản phẩm loại
thì phân xưởng nhận được số tiền lãi là 2 triệu đồng. Nếu sản xuất được một tấn sản phẩm loại
thì phân xưởng nhận được số tiền lãi là 1,6 triệu đồng. Muốn sản xuất một tấn sản phẩm loại
, người ta phải dùng máy
trong 3 giờ và máy
trong 1 giờ. Muốn sản xuất một tấn sản phẩm loại
, người ta phải dùng máy
trong 1 giờ và máy
trong 1 giờ. Một máy không thể dùng để sản xuất đồng thời hai loại sản phẩm. Máy
làm việc không quá 6 giờ một ngày và máy
làm việc không quá 4 giờ một ngày.
Câu 81:
Nếu phân xưởng sản xuất
tấn sản phẩm loại
và
tấn sản phẩm loại
thì số giờ cần sử dụng máy
là:





Đoạn văn 6
Một chiếc hộp có 80 viên bi, trong đó có 50 viên bi màu đỏ và 30 viên bi màu vàng; các viên bi có kích thước và khối lượng như nhau. Sau khi kiểm tra, người ta thấy có 60% số viên bi màu đỏ đánh số và 50% số viên bi màu vàng có đánh số, những viên bi còn lại không đánh số.
Câu 85:
Lấy ra ngẫu nhiên một viên bi trong hộp. Xác suất để viên bi được lấy ra không có đánh số là:
Đoạn văn 7
Tại một khu di tích vào ngày lễ hội hằng năm, tốc độ thay đổi lượng khách tham quan được biểu diễn bằng hàm số , trong đó t tính bằng giờ
,
tính bằng khách/giờ (Nguồn: R.Larson and B. Eawads, Calculus 10e, Cengage). Sau 2 giờ đã có 500 người có mặt.
Đoạn văn 8
Trong không gian , cho hình lập phương
có
,
,
,
. Gọi
lần lượt là trung điểm của
và
như hình dưới.
Đoạn văn 9
Trên kệ bếp có 9 hũ gia vị A, B, C, D, E, F, G, H, I được sắp xếp theo thứ tự từ trái sang phải theo các yêu cầu dưới đây:
- I xếp ở vị trí thứ 7.
- Có ít nhất 5 hũ gia vị được xếp bên phải A.
- E xếp bên phải D nhưng bên trái A.
- Có 3 hũ gia vị được xếp ở giữa E và F.
- B xếp cạnh G.
Đoạn văn 10
Thành viên của hai tiểu ban X và Y được chọn từ một nhóm gồm 7 người: Tiến, Minh, Quang, Thành, Uyên, Như, Hương.
Mỗi một người phải làm việc trong đúng một tiểu ban, X hoặc Y.
Tiến không thể cùng tiểu ban với Minh và Uyên.
Quang không thể cùng tiểu ban với Thành.
Câu 98:
Ta sẽ chỉ có đúng một cách phân 7 người vào hai tổ nếu điều kiện nào dưới đây được thêm vào?
Đoạn văn 11
Bảng sau thể hiện giá điện được thay đổi từ ngày 04/5/2023 đến trước ngày 9/11/2023 đã quy định rõ về giá bán lẻ điện cho các đơn vị bán lẻ điện đối với nhóm khách hàng sử dụng điện sinh hoạt gồm 6 bậc như sau:
Bậc |
Số điện áp dụng |
Giá mới |
Giá cũ (trước 04/05) |
1 |
0 – 50kWh |
1 728đ/ kWh |
1 678đ/ kWh |
2 |
51 – 100 kWh |
1 786đ/ kWh |
1 734đ/kWh |
3 |
101 - 200 kWh |
2 074đ/ kWh |
2 014đ/kWh |
4 |
201 - 300 kWh |
2 612đ/ kWh |
2 536đ/kWh |
5 |
301 - 400 kWh |
2 919đ/kWh |
2 834đ/kWh |
6 |
401 kWh trở lên |
3 015đ/ kWh |
2 927đ/kWh |
Đoạn văn 12
Trong công nghiệp, để sản xuất xà phòng, người ta thường đun chất béo (mỡ động vật, dầu thực vật) với dung dịch kiềm đặc ở nhiệt độ cao.
Sau phản ứng, hỗn hợp các muối của acid béo được tách ra bằng cách cho dung dịch muối ăn bão hòa vào hỗn hợp sản phẩm. Các muối của acid béo nổi lên, được lấy ra, sau đó được trộn với các chất phụ gia để làm xà phòng. Phần dung dịch còn lại đem tách và thu hồi glycerol.
Đoạn văn 13
Một trong những bệnh nghề nghiệp của thợ lặn có tỉ lệ gây tử vong và mất sức lao động cao là bệnh giảm áp. Nếu một thợ lặn từ độ sâu 30 m nổi lên mặt nước quá nhanh, nitrogen không vận chuyển kịp đến phổi giải phóng ra ngoài sẽ tích lại trong cơ thể hình thành các bọt khí gây nguy hiểm. Giả sử sự chênh lệch nhiệt độ là không đáng kể. Cho biết khối lượng riêng của nước là 1000 kg/m3, áp suất khí quyển là 105 Pa. Lấy g = 9,8 m/s2.
Câu 107:
Chênh lệch áp suất người thợ lặn phải chịu khi ở độ sâu 50 m so với khi nổi ở trên mặt nước là
Đoạn văn 14
Chứng bạch tạng ở người là do thiếu melanin trong các tế bào da, đặc biệt là các tế bào chân lông. Sự tổng hợp các sắc tố này qua hai phản ứng:
Phản ứng 1: Chất tiền thân P biến đổi thành tyrosine dưới tác dụng của enzyme
Phản ứng 2: Chất tyrosine được biến thành melanin dưới tác dụng của enzyme
Khi phân tích tế bào chân tóc của 2 cá thể A (nam) và B (nữ) đều bị bạch tạng, người ta thấy chúng đều có chất tiền thân P. Nhưng khi nhúng chân một số sợi tóc của A và B vào dung dịch có tyrosine thì tóc của B có màu đen của sắc tố melanin còn của tóc của A thì không có màu. Biết rằng enzyme và enzyme
là sản phẩm sinh tổng hợp của các gene trội nằm trên các NST khác nhau, các gene lặn đột biến không tạo ra enzyme.
Đoạn văn 15
Theo phân tích của Bộ Tài nguyên và Môi trường, những nguyên nhân gây ô nhiễm không khí tại Hà Nội cũng như các đô thị khác chủ yếu do: phát thải từ hoạt động giao thông; việc xây dựng, sửa chữa công trình hạ tầng đô thị; hoạt động sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp; thói quen sử dụng than tổ ong và tình trạng đốt rơm rạ trong mùa thu hoạch của người dân. Tại tọa đàm "Ô nhiễm không khí tại Việt Nam từ góc nhìn kinh tế" tổ chức sáng 14/1, PGS.TS Đinh Đức Trường (Giảng viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân) cho biết, mỗi năm Việt Nam có hàng chục nghìn người tử vong do ô nhiễm môi trường, 2/3 trong số đó tử vong do ô nhiễm không khí. Theo đó, năm 2018, 71.000 người chịu tác động của ô nhiễm môi trường, trong đó 50.000 người tử vong vì ảnh hưởng bởi không khí độc hại. Thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí ở thời điểm này ước tính 10,82-13,63 tỷ USD, tương đương 240.000 tỷ đồng, chiếm 4,45-5,64% GDP cả nước.
(Nguồn: Tổng hợp từ Internet: vietnamnet.vn và hanoimoi.com.vn)
Đoạn văn 16
Thông tin. “Đầu năm 1950, Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mở ra những điều kiện mới cho cuộc kháng chiến.
Thu-đông 1950, quân đội nhân dân Việt Nam lần đầu tiên chủ động mở chiến dịch Biên giới (từ ngày 16-9 đến ngày 22-10-1950) nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, khai thông biên giới Việt-Trung, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Sau hơn một tháng chiến đấu, quân đội Việt Nam đã giải phóng một vùng rộng lớn dọc biên giới Việt-Trung, chọc thủng hành lang Đông-Tây, làm phá sản kế hoạch Rơ-ve của thực dân Pháp. Từ đây, quân đội Việt Nam giành được thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.”
Đoạn văn 17
67 Đánh giá
50%
40%
0%
0%
0%