300+ câu Trắc nghiệm Luật thương mại 1 có đáp án - Phần 4
1 người thi tuần này 4.6 37 lượt thi 37 câu hỏi 43 phút
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
🔥 Học sinh cũng đã học
200+ câu Trắc nghiệm Công nghệ Internet of Things hiện đại có đáp án - Phần 8
200+ câu Trắc nghiệm Công nghệ Internet of Things hiện đại có đáp án - Phần 7
200+ câu Trắc nghiệm Công nghệ Internet of Things hiện đại có đáp án - Phần 6
200+ câu Trắc nghiệm Công nghệ Internet of Things hiện đại có đáp án - Phần 5
200+ câu Trắc nghiệm Công nghệ Internet of Things hiện đại có đáp án - Phần 4
200+ câu Trắc nghiệm Công nghệ Internet of Things hiện đại có đáp án - Phần 3
200+ câu Trắc nghiệm Công nghệ Internet of Things hiện đại có đáp án - Phần 2
200+ câu Trắc nghiệm Công nghệ Internet of Things hiện đại có đáp án - Phần 1
Danh sách câu hỏi:
Lời giải
Giữa công ty cổ phần A và ông Nguyễn văn X chỉ thuộc diện tranh chấp về thực hiện họp đồng giữa 2 bên đã ký kết, tất cả quan điểm giữa 2 bên A và B đều phải lấy họp đồng làm chuẩn. Nếu bên A đơn phương hủy bỏ họp đồng mà không hợp lý theo họp đồng đã ký kết thì đương nhiên phải bồi thường cho bên B, và bên B đã làm tròn trách nhiệm quyền đại lý hay không đó là một điểm rất quan trọng Bên B trước khi muốn thưa kiện và giải quyết theo pháp luật, thì cần phải hỏi
ý kiến của luật sư.
Lời giải
Những lập luận của NB để từ chối bồi thường khoản chênh lệch là không chính xác.
Mặc dù không thông báo cho NB về việc mua hàng từ bên thứ ba nhưng việc mua hàng để phục vụ tiến độ sản xuất, vì vậy có thể coi đây là một hành động chủ động nhằm làm giảm thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra (hành vi hông giao hàng) và NM trên thực tế không hề đòi một khoản chi phí phát sinh nào ngoại trừ tiền chênh lệch giá.
Trên thực tế giá NM mua đã có cước vận chuyển, do đó giá NM thực mua chỉ có 375USD/tấn, thấp hơn so với giá của NB đưa ra.
Người mua chỉ có thể đòi bồi thường những thiệt hại thực tế mà họ phải chịu, trong trường hợp này, số tiền bồi thường sẽ chỉ là 25×80000=2trUSD do người mua đã tiết kiệm được 5USD tiền cước vận chuyển khi mua hàng từ bên thứ ba.
Lời giải
B không được miễn trách nghiệm với hai lý do:
Trong trường hợp này lỗi bên C không cung cấp hàng cho bên B không phải là nguyên nhân bất khả kháng. Việc C không kịp nhập nguyên liệu trên thực tế là việc có thể lường trước được, và C có thể tìm cách khắc phục vấn đề này bằng cách nhập nguyên liệu từ các nguồn khác. Do vậy việc
B cũng không chứng minh được là lẽ ra họ cũng đã lường trước được hoặc tìm cách giảm bớt những hậu quả do việc giao hàng chậm từ phía C gây ra.
B đã không thông báo gì cho bên A biết về việc giao hàng thiếu do bên C không đủ hàng cho bên B ngay sau khi sự việc này xảy ra. Điều này vi phạm quy định về thông báo bất khả kháng nên B sẽ không được miễn trách.
Bồi thường uy tín kinh doanh:
Nếu bên A không chứng minh được thiệt hại cụ thể do việc mất uy tín kinh doanh thì bên A sẽ không được bồi thường.
Nếu bên A đưa ra được những chứng cứ chứng minh thiệt hại như sự sụt giảm của doanh số và lợi nhuận với các đối tác truyền thống mua giày (mà bên A vẫn nhập của B) so với các kì kinh doanh trước. Lý do vì A đã không thỏa mãn được các đơn hàng đã ký kết khiến cho đối tác không tiếp tục lựa chọn bên A. Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về uy tín của A là hoàn toàn có căn cứ. Trong trường hợp này, A phải được bồi thường cho thiệt hại về uy tín thương mại.
Lời giải
Mặc dù có lệnh cấm nhập khẩu của Chính phủ có sau khi hợp đồng được kí kết nhưng đã có dự thảo từ trước khi có hợp đồng. Do vậy việc chính phủ ra lệnh cấm nhập khẩu là sự kiện có thể dự đoán trước được và lý do không nhận hàng của NM không được coi là lý do bất khả kháng, NM không được miễn trách trong trường hợp này.
Quá trình tố tụng trọng tài đã được bắt đầu tiến hành trước khi có sự xóa tên chính thức của NM khỏi sổ đăng ký kinh doanh, do vậy địa vị pháp lý hiện tại cả NM không ảnh hưởng gì tới hiệu lực của quá trình tố tụng đang được tiến hành trước tòa trọng tài ICC. Đại diện của NM sẽ phải thanh lý toàn bộ tài sản của công ty NM và có nghĩa vụ thực hiện các phán xét của trọng tài bằng số tài sản nói trên.
Các chi phí bên NM nêu là các chi phí hợp lý để NB khắc phục hậu quả của việc vi phạm hợp đồng nên nếu NB đưa ra được bằng chứng về các chi phí và khoản lãi mất hưởng (do bán cho C với giá thấp hơn giá trong hợp đồng) như hóa đơn, chứng từ thanh toán, hợp đồng mua bán... NM sẽ phải bồi thường. Trong trường hợp ngược lại, nếu những chi phí này chỉ là nhận định chủ quan của NB thì NB có thể không đòi được tiền bồi thường hay chỉ được bồi thường theo số tiền như thông lệ hoặc như tập quán. Tuy nhiên đối với chi phí lưu hàng, do NB không thông báo ngày giờ tàu cập cảng cho NM nên mặc định NM sẽ chỉ phải nhận hàng vào ngày muộn nhất là 15/2/2014.
Chi phí lưu khoang NB yêu cầu bồi thường như vậy là chưa hợp lý, NB chỉ có thể đòi người mua chi phí lưu khoang trong 10 ngày.
Lời giải
Kết quả giám định của Vinacontrol và các hành vi sửa chữa cũng như cam kết bồi thường và đổi máy cho A chứng minh B đã giao hàng có khuyết tật cho A và B phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm hợp đồng này.
Khi phát hiện hai máy thêu có khuyết tật, bị hỏng hóc trong thời gian bảo hành, A đã yêu cầu B thay thế hai máy này bằng hai máy có phẩm chất đúng như quy định của hợp đồng và B đã chấp nhận yêu cầu này của A. Như vậy, phương án thay thế hai máy là phương án phù hợp với ý chí của hai bên. Mặt khác, phương án trả lại hai máy, lấy lại tiền hàng thông thường được áp dụng khi người mua không thể thay thế được máy khác. Vì vậy, yêu cầu trả lại hai máy, đòi lại tiền hàng của A là không hợp lý.
Giao hàng có khuyết tật thiệt hại cho A thì B phải có trách nhiệm bồi thường những khoản tiền sau:
Chi phí nhân công trong thời gian hai máy ngưng hoạt động, vì máy ngừng hoạt động, công nhân không có việc làm, A vẫn phải trả lương cho số công nhân này.
Lãi suất của 136000USD tính cho thời gian kể từ ngày máy ngừng hoạt động cho đến ngày trọng tài xét xử. Đây là khoản thiệt hại do đọng vốn vì không sử dụng được máy.
Chi phí giám định trả cho SGS Việt Nam. Vì khuyết tật của máy phát sinh trong thời gian bảo hành, làm cho máy móc không hoạt động được, buộc A phải mới SGS làm giám định, kết quả là máy có khuyết tật, không vận hành được.
Yêu cầu của A đòi bồi thường thiệt hại do mất khách hàng, thiệt hại mất doanh thu, thiệt hại tinh thần không hợp lý bởi vì đây không phải tài sản trực tiếp thực tế, không phải do máy móc có khuyết tật trực tiếp gây ra.
Lời giải
Công ước Viên chính thức có hiệu lực với Việt Nam từ 1/1/2017. Theo điều 5 khoản 1 Luật thương mại 2005: “Trường hợp điều ước quốc tế mà cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”. Trong trường hợp này nguồn luật được áp dụng sẽ là Công ước Viên năm 1980 do cả Việt Nam và Singapore đều là thành viên của Công Ước. Và theo Công ước, hình thức của hợp đồng có thể là văn bản, lời nói, hành vi nên trong trường hợp này, hợp đồng đã hình thành giữa hai bên.
Việc bên B không đến nhận hàng là đã vi phạm hợp đồng. hành vi này gây thiệt hại cho bên A nên việc bên A đòi B bồi thường là chính đáng. Tuy nhiên B chỉ phải bồi thường:
Chi phí lưu kho
Số tiền lãi theo giá trị của đơn hàng với lãi suất của ngân hàng Singapore vì đây là khoản lãi mất hưởng của bên A (nếu B thực hiện đúng hợp đồng thì A sẽ có số tiền này để gửi tại ngân hàng của mình tại Singapore) Những khoản B sẽ không phải bồi thường:
Thuế XK và các lệ phí hải quan là không hợp lý do khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì nghĩa vụ trên vốn dĩ thuộc về nhà xuất khẩu.
Những thiệt hại về uy tín và những khoản lợi dự tính là những thiệt hai không xác đáng do bên A không nhận được tiền từ B không phải là nguyên nhân trực tiếp khiến A không thanh toán tiền cho bên C, do A hoàn toàn có thể huy động tiền từ các nguồn khác để thanh toán cho C.
Lời giải
NM căn cứ vào biên bản thỏa thuận ba bên để từ chối nghĩa vụ thanh toán là không đúng với lý do:
- Thứ nhất, trong Biên bản thỏa thuận ba bên không phải là một bộ phận không thể tách rời khỏi hợp đồng, do đó nghĩa vụ của hợp đồng giữa NB và NM không chịu chi phối bới biên bản thỏa thuận này.
- Thứ hai, bản chất của hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là bên nhận ủy thác, để được hưởng phí ủy thác, thì phải nhân danh bản thân mình thực hiện các công việc đã được ủy thác với người thứ ba, chứ không phải nhân dành người ủy thác. Với lập luận của NM, rõ ràng bằng biên bản thỏa thuận ba bên ký ngày 10/6/2013, NM, một mặt muốn nhận phí ủy thác, nhưng mặt khác lại không muốn nhận trách nhiệm về mình qua việc nhân danh mình được thực hiện hợp đồng với người thứ ba.
- Thứ ba, biên bản thỏa thuận ba bên lại quy định của hàng A chịu trách nhiệm trả tiền cho NB – tài khoản tại Singapore. Điều này không thể thực hiện được vì cửa hàng A không được làm việc đó theo quy định của pháp luật Việt Nam (cơ chế quản lý ngoại hối) Việc NM không trả tiền là vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, do đó người mua phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra cho NB:
- Tiền hàng chưa thanh toán
- Tiền lãi (lãi mất hưởng) nhưng chỉ được tính từ thời điểm sau bảy ngày khi NM nhận được chứng từ gốc, không phải từ ngày 21/6/2013
- Phí tư vấn pháp lý, phí dịch thuật, phí liên lạc điện thoại và fax nếu không cung cấp được bằng chứng hợp lệ thì sẽ không được bồi thường.
Lời giải
Câu 1: Cuộc họp ngày 20/12 không hợp lệ vì:
- Theo khoản 1, điều 48, luật doanh nghiệp 2005 “Việc chỉ định người đại diện theo uỷ quyền phải bằng văn bản, được thông báo đến công ty và cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày chỉ định. Thông báo phải có các nội dung chủ yếu sau đây:a) Tên, địa chỉ trụ sở chính, quốc tịch, số và ngày quyết định thành lập hoặc đăng ký kinh doanh;
b) Tỷ lệ vốn góp, số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp;
c) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo uỷ quyền được chỉ định;
d) Thời hạn uỷ quyền;đ) Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của thành viên, của người đại diện theo uỷ quyền của thành viên.”
Việc thay thế người đại diện theo uỷ quyền phải được thông báo bằng văn bản cho công ty và cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày quyết định và có hiệu lực kể từ ngày công ty nhận được thông báo.”
Do đó việc bà C ủy quyền miệng nhờ A bỏ phiếu cho mình là không hợp lệ, trong khi B không tham dự. Cuộc họp HĐTV ngày 20/12 diễn ra với sự có mặt của A và D là hợp lệ, đại diện cho 60% vốn điều lệ ( A: 4 tỷ, D 2 tỷ).
- Cuộc họp HĐTV ngày 20/12 là cuộc họp lần 1 mà theo “khoản 1 điều 51, luật doanh nghiệp 2005, “Cuộc họp Hội đồng thành viên được tiến hành khi có số thành viên dự họp đại diện ít nhất 75% vốn điều lệ; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.” Tức là trong trường hợp này số thành viên dự họp đại diện ít nhất phải là 7,5 tỷ đồng. Vì vậy cuộc họp ngày 20/12 đã vi phạm khoản 1 điều 51 luật doanh nghiệp 2005 về Điều kiện và thể thức tiến hành họp Hội đồng thành viên
Câu 2: Quyết định khai trừ B tại cuộc họp ngày 30/12 là không có hiệu lực bởi vì:
Thứ nhất: Căn cứ vào khoản 2 điều 50 “ Thông báo mời họp Hội đồng thành viên có thể bằng giấy mời, điện thoại, fax, telex hoặc các phương tiện điện tử khác do Điều lệ công ty quy định và được gửi trực tiếp đến từng thành viên Hội đồng viên.....”. Do đó, cuộc họp hội đồng ngày 30/12 là sai thủ tục vì đã không thông báo cho B.
Thứ hai: Căn cứ theo khoản 2 điều 47 “Hội đồng thành viên có các quyền và nhiệm vụ sau:
a) Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty;
b) Quyết định tăng hoặc giảm vốn điều lệ, quyết định thời điểm và phương thức huy động thêm vốn;
c) Quyết định phương thức đầu tư và dự án đầu tư có giá trị trên 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;
d) Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và chuyển giao công nghệ; thông qua hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;
đ) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký và chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và người quản lý khác quy định tại Điều lệ công ty;
e) Quyết định mức lương, thưởng và lợi ích khác đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và người quản lý khác quy định tại Điều lệ công ty;
g) Thông qua báo cáo tài chính hàng năm, phương án sử dụng và phân chia lợi nhuận hoặc phương án xử lý lỗ của công ty;
h) Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty;
i) Quyết định thành lập công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện;
k) Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
l) Quyết định tổ chức lại công ty;
m) Quyết định giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty;
n) Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty”.
=> Hội đồng thành viên không có quyền khai trừ tư cách thành viên của B.
Thứ ba: Căn cứ vào khoản 8 điều 4: “Vốn có quyền biểu quyết là phần vốn góp hoặc cổ phần, theo đó người sở hữu có quyền biểu quyết về những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông”. Điều này có nghĩa là tư cách thành viên của B được xác lập thông qua vốn góp là 2 tỷ đồng và tư cách thành viên của B chỉ mất thông qua các trường hợp được quy định tại điều 42, 43 và 44.
Câu 3: Phương hướng giải quyết
1. Công ty không khai trừ B
- Công ty cần triệu tập lại cuộc họp HĐTV theo quy định của pháp luật. Thống nhất lại kế hoạch kinh doanh. Quyết định của HĐTV sẽ được thông qua theo khoản 2 điều 52, LDN và các thành viên phải chấp hành theo quyết định của HĐTV. “Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp trong các trường hợp sau đây:
Được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định;
Được số phiếu đại diện ít nhất 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận đối với quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, tổ chức lại, giải thể công ty; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định”.2. Khi công ty muốn khai trừ B:
Có 2 cách thức để có thể tiến hành khai trừ B
- Thứ nhất: Hội đồng thành viên thông qua các quyết định bằng hình thức lấy ý kiến bằng văn bản: Theo khoản 3 điều 52, Luật Doanh Nghiệp, quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản khi được số thành viên đại diện ít nhất 75% vốn điều lệ chấp thuận. Như vậy nếu lấy ý kiến bằng văn bản mà cả A, C và D đều chấp thuận thì B sẽ bị khai trừ khỏi công ty.
- Thứ hai: Hội đồng thành viên thông qua các quyết định bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp. Do cuộc họp ngày 20/12 họp bàn về việc thống nhất phương án phân chia lợi nhuận, cuộc họp ngày 30/12 họp bàn việc thống nhất khai trừ B nên hai cuộc họp này không có liên quan đến nhau. Như vậy cuộc họp thành viên diễn ra ngày 30/12 trở thành cuộc họp đầu tiên họp bàn về vấn đề khai trừ B. Tuy nhiên, cuộc họp HĐTV lần thứ nhất được tiến hành không hợp lệ nên nếu công ty muốn khai trừ B thì phải tiếp tục tiến hành triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất theo quy định tại khoản 2 điều 51 – Luật Doanh Nghiệp. Trong trường hợp này, cuộc họp Hội đồng thành viên thứ hai phải đảm bảo được thông báo tới tất cả các thành viên trong hội đồng thành viên của công ty và cuộc họp chỉ được diễn ra khi có số thành viên dự họp đại diện ít nhất 50% Vốn điều lệ. Quyết định khai trừ B sẽ được thông qua nếu được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận theo điểm a, khoản 2, điều 52 Luật Doanh Nghiệp, tức là cả A, C và D bỏ phiếu tán thành.
Phần vốn góp của B có thể được giải quyết theo các cách sau:
- Yêu cầu công ty mua lại vốn góp
- Chuyển nhượng phần vốn góp
- Tặng cho, thừa kế
- Sử dụng vốn góp để trả nợ
- Công ty giảm vốn điều lệ theo quy định tại khoản 3 điều 60.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Xem tiếp với tài khoản VIP
Còn 29/37 câu hỏi, đáp án và lời giải chi tiết.
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.